

Album (hay album nhạc, album thu âm) là một tập hợp các bản thu âm (ví dụ: âm nhạc) được phát hành trên các phương tiện vật lý hoặc kỹ thuật số như đĩa CD, đĩa than (vinyl), băng âm thanh (như tám rãnh hoặc cassette) hoặc định dạng số. Các album thu thanh được phát triển từ đầu thế kỷ 20, ban đầu là những đĩa than 78 vòng/phút (78 giây) riêng lẻ được thu thập và đóng thành dạng sách giống như một quyển album ảnh. Sau năm 1948, định dạng này đã phát triển thành những đĩa than vinyl dài (LP) chạy ở tốc độ 33+1⁄3 vòng/phút.
Album từng là hình thức biểu đạt và thưởng thức âm nhạc chủ đạo từ giữa thập niên 1960 đến đầu thế kỷ 21 – giai đoạn ấy được gọi là kỷ nguyên album.[1] Hiện nay, đĩa than vinyl LP vẫn được sản xuất, song doanh số album trong thế kỷ 21 chủ yếu tập trung vào định dạng CD và MP3. Băng tám rãnh là định dạng băng đầu tiên được sử dụng rộng rãi song song với đĩa than từ năm 1965 cho đến khi bị loại bỏ dần vào năm 1983, rồi dần bị băng cassette thay thế trong suốt thập niên 1970 và đầu thập niên 1980. Sự phổ biến của băng cassette đạt đỉnh vào cuối thập niên 1980 trước khi suy giảm mạnh trong thập niên 1990 và hầu như biến mất trong thập kỷ đầu tiên của những năm 2000.
Phần lớn album được ghi âm trong phòng thu,[2] do đó được gọi là album phòng thu, mặc dù chúng cũng có thể được thu tại các địa điểm hòa nhạc, tại nhà, ngoài trời hoặc kết hợp nhiều nơi. Khoảng thời gian để hoàn thành một album có thể dao động từ vài giờ đến vài năm. Quá trình này thường yêu cầu nhiều lượt thu (take) khác nhau với các phần nhạc được ghi riêng biệt, sau đó được ghép lại hoặc "trộn" vào nhau. Các bản thu được thực hiện trong một lần duy nhất, không chỉnh sửa thu đè (overdubbing) được gọi là thu "trực tiếp" (live), ngay cả khi được thực hiện trong phòng thu. Các phòng thu được thiết kế để hấp thụ âm thanh, loại bỏ tiếng vang (reverberation), nhằm hỗ trợ việc phối trộn nhiều phần thu khác nhau. Trong khi đó, các địa điểm khác như sân khấu biểu diễn hay một số "phòng thu trực tiếp" (live rooms) lại có tiếng vang, tạo ra âm thanh "sống động" hơn.[3] Các bản thu, kể cả thu trực tiếp, có thể bao gồm chỉnh sửa, hiệu ứng âm thanh, điều chỉnh giọng hát... Nhờ công nghệ thu âm hiện đại, các nghệ sĩ có thể được thu âm ở những phòng riêng biệt hoặc vào các thời điểm khác nhau trong khi nghe các phần khác qua tai nghe, mà mỗi phần được ghi thành một bài riêng biệt. Một album thường được coi là có nhiều bài hơn một EP.
Bìa album và phần ghi chú đi kèm (liner notes) thường được sử dụng, đôi khi còn kèm theo thông tin bổ sung như phân tích về bản thu và lời bài hát hoặc libretto.[4][5] Về mặt lịch sử, thuật ngữ "album" được dùng để chỉ một tập hợp các vật phẩm khác nhau được lưu giữ trong một định dạng sách. Trong âm nhạc, từ này được sử dụng để chỉ tuyển tập các bản nhạc ngắn lưu hành từ đầu thế kỷ XIX. Sau này, các bộ sưu tập đĩa than 78 vòng/phút có liên quan được đóng thành tập dạng giống sách (một mặt của đĩa 78 vòng/phút chỉ có thể chứa khoảng 3,5 phút âm thanh). Khi đĩa than LP ra đời, một tập hợp các bản nhạc hoặc ca khúc trên một đĩa duy nhất được gọi là "album". Thuật ngữ này sau đó được mở rộng sang các phương tiện thu âm khác như đĩa CD, MiniDisc, băng cassette, băng tám rãnh và album kỹ thuật số khi chúng lần lượt xuất hiện.
Lịch sử ra đời
Từ album (từ tiếng Latinh albus, nghĩa là "trắng") trong thời La Mã cổ đại để chỉ một tấm bảng được quét phấn hoặc sơn màu trắng, trên đó các sắc lệnh, chỉ dụ và các thông báo công cộng khác được khắc bằng màu đen. Từ đó, trong thời Trung cổ và hiện đại, "album" dần được dùng để chỉ một quyển sách gồm các trang trắng, dùng để lưu giữ thơ ca, chữ ký, phác họa, ảnh chụp và những nội dung tương tự.[6] Đầu thế kỷ XIX, từ "album" thỉnh thoảng được dùng trong tiêu đề của một số bộ tác phẩm âm nhạc cổ điển, chẳng hạn như Album für die Jugend Opus 68 của Robert Schumann – tập hợp gồm 43 bản nhạc ngắn.[7]
Với sự xuất hiện của đĩa than 78 vòng/phút vào đầu những năm 1900, loại đĩa 10 inch phổ biến chỉ có thể chứa khoảng ba phút âm thanh mỗi mặt, vì vậy hầu hết các bản thu âm nhạc đại chúng đều bị giới hạn trong khoảng ba phút.[8] Các tác phẩm nhạc cổ điển và ghi âm giọng nói thường được phát hành trên đĩa 78 vòng/phút loại 12 inch dài hơn, với thời lượng khoảng 4–5 phút mỗi mặt. Ví dụ vào năm 1924, George Gershwin đã thu âm một phiên bản rút gọn đáng kể tác phẩm Rhapsody in Blue của ông cùng Paul Whiteman và dàn nhạc của ông. Bản thu này được phát hành trên cả hai mặt của một đĩa đơn, mang mã hiệu Victor 55225 và có thời lượng 8 phút 59 giây.[9] Đến năm 1910, mặc dù một số hãng thu âm châu Âu đã phát hành các album chứa trọn vẹn các vở opera và tác phẩm khác, nhưng đến những năm 1920, việc phát hành album mới thực sự được các hãng thu âm Mỹ áp dụng rộng rãi.
Khoảng năm 1910, các bộ sưu tập những túi đựng đĩa trống được đóng thành tập với bìa giấy cứng (paperboard) hoặc bìa da (tương tự như một cuốn album ảnh) được bán dưới dạng "album đĩa than" để khách hàng có thể dùng lưu trữ đĩa của mình (cụm từ "album đĩa than" được in trên một số bìa). Những album này có cả kích thước 10 inch và 12 inch. Bìa của các tập sách đóng này rộng và cao hơn các đĩa than bên trong, cho phép đặt album đứng trên kệ như một cuốn sách, giữ những chiếc đĩa than dễ vỡ ở phía trên mặt kệ và bảo vệ chúng. Đến những năm 1930, các hãng thu âm bắt đầu phát hành các đĩa tổng hợp 78 vòng/phút của một nghệ sĩ hoặc một thể loại nhạc nhất định trong những album được thiết kế đặc biệt, thường có hình ảnh minh họa ở bìa trước và phần ghi chú (liner notes) ở bìa sau hoặc bên trong. Hầu hết các album gồm ba hoặc bốn đĩa, mỗi đĩa hai mặt, tương đương với sáu đến tám tác phẩm trong một album.[10]
Đến giữa những năm 1930, các hãng thu âm đã áp dụng định dạng album cho các tuyển tập nhạc cổ điển dài hơn khoảng tám phút – thời lượng tối đa có thể chứa trên cả hai mặt của một đĩa than cổ điển 12 inch, 78 vòng/phút. Ban đầu, bìa album thường đơn giản, chỉ in tên tác phẩm và nghệ sĩ với cỡ chữ nhỏ. Năm 1938, Columbia Records đã thuê nhà thiết kế đồ họa đầu tiên trong ngành để thiết kế bìa album. Các hãng khác nhanh chóng học theo và những bìa album đầy màu sắc dần trở thành một yếu tố quan trọng trong việc tiếp thị sản phẩm.[11]
Vào cuối những năm 1930, các hãng thu âm bắt đầu phát hành các album tập hợp những bản thu âm nhạc phổ thông đã ra mắt trước đó – được sắp xếp theo nghệ sĩ, ca sĩ, ban nhạc hoặc theo thể loại nhạc, chẳng hạn như boogie-woogie. Khi Columbia giới thiệu định dạng đĩa than Long Playing (LP) vào năm 1948, việc tiếp tục sử dụng thuật ngữ "album" là điều dễ hiểu. Columbia dự kiến sự phân biệt kích thước đĩa ở định dạng 78 vòng/phút sẽ được duy trì: nhạc cổ điển trên đĩa 12 inch, nhạc phổ thông trên đĩa 10 inch, và các đĩa đơn trên định dạng 78 vòng/phút. Trên thực tế, đĩa LP 10 inch đầu tiên dành cho nhạc phổ thông của Columbia chính là album đầu tay của Frank Sinatra – bộ bốn đĩa với tám ca khúc có tên The Voice of Frank Sinatra – vốn đã được phát hành lần đầu vào năm 1946.[12]
Việc RCA giới thiệu định dạng 45 vòng/phút nhỏ hơn vào cuối năm 1948 đã phá vỡ kỳ vọng của Columbia. Đến giữa thập niên 1950, đĩa 45 chiếm lĩnh thị trường đĩa đơn, trong khi LP 12 inch thống trị thị trường album, còn cả đĩa 78 lẫn LP 10 inch đều bị ngừng sản xuất. Trong thập niên 1950, album nhạc phổ thông cũng được phát hành trên đĩa 45, đựng trong những tập album giấy dày nhỏ có bìa gập (gate-fold), chứa nhiều đĩa trong các bao riêng hoặc trong hộp nhỏ. Định dạng này biến mất vào khoảng năm 1960. Album The Voice của Sinatra được phát hành lại vào năm 1952 dưới dạng hai đĩa EP 45, mỗi mặt chứa hai bài hát, với cả hai hình thức đóng gói nói trên.[12]
Đĩa than LP 10 inch và 12 inch (long play), hay đĩa than vinyl rãnh 33+1⁄3 vòng/phút – là một định dạng đĩa nhạc do Columbia Records giới thiệu vào năm 1948.[13] Một đĩa LP đơn thường chứa số lượng bài hát tương đương hoặc tương tự như một album đĩa 78 điển hình, vì thế nó đã được ngành công nghiệp thu âm chấp nhận làm định dạng tiêu chuẩn cho "album".[10] Ngoài một số cải tiến nhỏ và bổ sung quan trọng về sau là khả năng âm thanh lập thể, định dạng này vẫn giữ nguyên là chuẩn mực cho các album vinyl.
Thuật ngữ "album" sau đó được mở rộng sang các phương tiện thu âm khác như băng tám rãnh, cassette, CD, MiniDisc và album nhạc số, khi chúng lần lượt ra đời.[14] Trong xu hướng chuyển dịch doanh số của ngành công nghiệp âm nhạc, một số nhà quan sát cho rằng đầu thế kỷ 21 đã chứng kiến sự khai tử của album truyền thống.[15]
Thời lượng
Một album có thể chứa bất kỳ số lượng bài hát nào. Tại Hoa Kỳ, Viện hàn lâm Thu âm – đơn vị tổ chức giải Grammy quy định rằng một album phải có tổng thời lượng phát tối thiểu là 15 phút với ít nhất năm bài hát riêng biệt, hoặc tổng thời lượng tối thiểu là 30 phút mà không yêu cầu số bài hát tối thiểu.[16] Tại Vương quốc Liên hiệp Anh, tiêu chí của UK Albums Chart quy định một bản thu được tính là "album" nếu nó có hơn bốn bài hát hoặc dài hơn 25 phút.[17] Đôi khi, các album ngắn hơn được gọi là mini-album hoặc EP.[18] Một số album (như Tubular Bells, Amarok và Hergest Ridge của Mike Oldfield và Close to the Edge của Yes) chỉ gồm dưới bốn bài hát nhưng vẫn vượt quá mốc 25 phút. Album Dopesmoker của Sleep cchỉ chứa một bài hát duy nhất, nhưng bản nhạc đó dài hơn 63 phút. Không có quy tắc chính thức nào ngăn cản các nghệ sĩ như Pinhead Gunpowder gọi các sản phẩm âm nhạc của họ dưới 30 phút là "album".
Nếu một album quá dài để có thể chứa trên duy nhất một đĩa than vinyl hoặc CD, nó có thể được phát hành dưới dạng album kép – gồm hai đĩa LP vinyl hoặc CD được đóng gói chung trong một hộp, hoặc album ba chứa ba đĩa LP hoặc CD. Các nghệ sĩ thu âm có kho tàng tác phẩm đồ sộ có thể tái phát hành nhiều CD trong một hộp duy nhất với thiết kế thống nhất, thường bao gồm một hoặc nhiều album (trong trường hợp này, đôi khi những ấn phẩm này được gọi là "two-fer" hoặc "three-fer"), hoặc một tuyển tập các bản thu chưa từng phát hành trước đây. Những ấn phẩm này được gọi là hộp tuyển tập (box set). Một số nghệ sĩ âm nhạc cũng đã phát hành cùng lúc hơn ba đĩa CD hoặc đĩa than LP ghi âm mới dưới dạng hộp tuyển tập, mặc dù trong trường hợp đó, tác phẩm đó thường vẫn được coi là một album.
Bài nhạc
Nội dung (âm nhạc hoặc âm thanh) trên một album được lưu trữ theo từng phần riêng biệt gọi là bài nhạc (track). Bài nhạc là (thường được gọi đơn giản là track) là một bản thu âm bài hát hoặc khí nhạc. Thuật ngữ này đặc biệt gắn liền với dòng nhạc đại chúng, nơi các bài nhạc riêng biệt được gọi là bài nhạc album. Thuật ngữ này cũng được dùng cho các định dạng khác như EP và đĩa đơn. Khi đĩa than vinyl là phương tiện thu âm chủ đạo, các bài nhạc có thể được nhận diện trực quan qua các rãnh đĩa và nhiều bìa album hoặc bao đĩa có đánh số thứ tự bài nhạc cho từng mặt đĩa. Trên đĩa CD, số thứ tự bài nhạc được lập chỉ mục để máy phát có thể chuyển thẳng đến đầu bất kỳ bài nhạc nào. Trên các cửa hàng âm nhạc kỹ thuật số như iTunes. Thuật ngữ bài hát (song) thường được dùng thay thế cho track bất kể bản nhạc đó có nội dung thanh nhạc hay không.
Một bài nhạc trùng tên với album được gọi là bài nhạc chủ đề (title track). Trong ngành công nghiệp âm nhạc Hàn Quốc, bài nhạc chủ đề được dùng để chỉ bất kỳ ca khúc nào được quảng bá, chẳng hạn như đĩa đơn, bất kể tiêu đề của nó có trùng với tên album hay không.
Bài nhạc bổ sung
Một bài nhạc bổ sung (còn được gọi là bonus cut hay bonus track) là một ca khúc được thêm vào như phần tặng kèm. Điều này có thể được thực hiện với mục đích quảng bá hoặc vì những lý do khác. Việc đưa các đĩa đơn, mặt B, bản thu trực tiếp và bản thu nháp làm bài nhạc bổ sung cho các đợt tái phát hành album cũ là khá phổ biến, đặc biệt khi những bài nhạc đó không có trong bản gốc. Các cửa hàng âm nhạc trực tuyến cho phép người mua tự tạo album của riêng mình bằng cách tự chọn bài hát. Bài nhạc bổ sung có thể được tặng kèm nếu khách hàng mua toàn bộ album thay vì chỉ một hoặc hai bài từ nghệ sĩ. Bài hát này không nhất thiết phải miễn phí, cũng không phải lúc nào cũng có sẵn để tải xuống riêng lẻ, điều này tạo thêm động lực để mua album đầy đủ. Khác với các bài nhạc ẩn (hidden track), bài nhạc bổ sung thường được liệt kê trong danh sách bài nhạc và thường không có khoảng lặng giữa các bài nhạc khác trong album. Ở Nhật Bản, việc thêm bài nhạc bổ sung vào album CD hoặc vinyl là phổ biến đối với các sản phẩm của nghệ sĩ châu Âu và Bắc Mỹ, vì việc nhập khẩu bản quốc tế của album có thể rẻ hơn so với mua sản phẩm trong nước, nên các sản phẩm âm nhạc tại Nhật thường có bài nhạc bổ sung để khuyến khích mua hàng trong nước.[19]
Định dạng âm thanh
Định dạng in ấn phi âm thanh
Nhạc phẩm in thương mại thường được phát hành kèm theo một album mới (album phòng thu, album tuyển tập, nhạc phim, v.v.). Một tập sách nhạc (songbook) tương ứng là một tuyển tập các bản nhạc (ký âm) của tất cả ca khúc có trong album đó. Nó thường có hình ảnh bìa album trên trang bìa và, bên cạnh phần nhạc, còn bao gồm cả ảnh của nghệ sĩ.[20] Hầu hết các sản phẩm nhạc pop và rock đều có dưới định dạng ký âm tiêu chuẩn dành cho piano/thanh nhạc/guitar (và đôi khi có thêm phiên bản Easy Piano / E-Z Play Today).[21] Các sản phẩm định hướng rock cũng có thể có phiên bản Guitar Recorded Versions – tức là những bản chép nốt nhạc y nguyên được viết trực tiếp từ bản thu của nghệ sĩ.[22]
Đĩa than vinyl

Đĩa than vinyl LP có hai mặt, mỗi mặt chứa một nửa album. Nếu một album pop hoặc rock có các bài hát được phát hành riêng dưới dạng đĩa đơn thương mại, chúng thường được sắp xếp ở những vị trí cụ thể trên album.[14] Ở thập niên 60, đặc biệt là ở Anh, đĩa đơn thường được phát hành tách biệt với album. Ngày nay, nhiều album thương mại chứa các bài hát có một hoặc nhiều đĩa đơn được phát hành riêng lẻ đến đài phát thanh, truyền hình hoặc Internet như một cách quảng bá cho album.[23] Cũng có những album được phát hành là các tuyển tập những bản nhạc cũ vốn không được phát hành cùng nhau ban đầu, chẳng hạn như các đĩa đơn không có trong album gốc, mặt B của đĩa đơn hay các bản thu "demo" chưa hoàn thiện.[14]
Trong những năm 1970, đôi khi các album kép được sắp xếp trình tự để phù hợp với máy chuyển đĩa tự động (record changer). Ví dụ, trong một bộ hai đĩa, mặt 1 và 4 sẽ được dập trên một đĩa, và mặt 2 và 3 trên đĩa còn lại. Người dùng sẽ xếp chồng hai đĩa lên trục của máy chuyển đĩa tự động, với mặt 1 ở dưới và mặt 2 (trên đĩa kia) ở trên. Mặt 1 sẽ tự động rơi xuống bàn xoay và được phát. Khi kết thúc, vị trí cần âm sẽ kích hoạt cơ chế đưa cần ra khỏi vị trí, thả đĩa có mặt 2 xuống và phát nó. Sau khi cả hai đĩa đã được phát xong, người dùng sẽ lấy cả chồng đĩa lên, lật mặt và đặt chúng trở lại trục, lúc này mặt 3 và 4 sẽ lần lượt được phát.[14] Máy chuyển đĩa đã được sử dụng trong nhiều năm của kỷ nguyên LP, nhưng cuối cùng đã không còn được dùng nữa.
Băng tám rãnh

Băng tám rãnh (8-track tape, Stereo 8 hay eight-track tape) là một công nghệ thu âm bằng băng từ phổ biến tại Hoa Kỳ[24] từ giữa những năm 1960 đến cuối những năm 1970, khi định dạng băng cassette dần thay thế.[24][25] Định dạng này được coi là một công nghệ lỗi thời và tương đối ít được biết đến bên ngoài Hoa Kỳ, Vương quốc Anh, Canada và Úc.[25][24]
Năm 1964, một tập đoàn do Bill Lear (Lear Jet Corporation) dẫn đầu cùng Ampex, Ford Motor Company, General Motors, Motorola và RCA Victor Records đã tạo ra chiếc băng Stereo 8. Đây là sự phát triển tiếp nối từ hộp băng bốn rãnh Stereo-Pak tương tự do Earl "Madman" Muntz sáng chế. Sau đó, một phiên bản âm thanh bốn kênh (quadraphonic) của định dạng này đã được RCA công bố vào tháng 4 năm 1970, nó ban đầu được gọi là Quad-8, sau đó đổi tên thành Q8.
Băng cassette

Băng cassete (Compact Cassette) sử dụng băng từ hai mặt để phân phối âm nhạc thương mại.[26] "Cassette" đầu tiên được Philips giới thiệu vào tháng 8 năm 1963 dưới dạng nguyên mẫu.[27] Cassette trở nên đặc biệt phổ biến trong những năm 1980 sau sự ra đời của Sony Walkman, tạo điều kiện cho người dùng kiểm soát những gì họ nghe.[27][28] Walkman rất tiện lợi nhờ kích thước nhỏ gọn, có thể bỏ vừa hầu hết các túi và thường được trang bị móc để gắn vào thắt lưng hoặc quần.[27]
Cassette sử dụng băng từ hai mặt để phân phối âm nhạc thương mại.[27][29] Âm nhạc được ghi trên cả mặt "A" và mặt "B" của băng, và người nghe phải "lật" băng để phát mặt còn lại của album.[27] Cassette cũng là một cách phổ biến để các nhạc sĩ ghi lại các băng "demo" hoặc "băng demo" nhạc của họ ể phân phối cho các hãng thu âm khác nhau, với hy vọng có được hợp đồng thu âm.[30]
Cassette cũng chứng kiến sự ra đời của các băng tổng hợp (mixtape) – tức là những cuộn băng chứa tuyển tập các bài hát được tạo ra bởi bất kỳ người nghe nhạc bình thường nào.[31] Các bài hát trên một băng tổng hợp thường có liên quan đến nhau theo một cách nào đó, có thể là một chủ đề khái niệm hoặc một âm thanh tổng thể.[31] Sau khi đĩa CD ra đời, thuật ngữ "Mixtape" bắt đầu được áp dụng cho bất kỳ bản tổng hợp bài hát cá nhân nào trên bất kỳ định dạng nào.[31]
Doanh số bán cassette cuối cùng bắt đầu suy giảm vào những năm 1990, sau khi đĩa CD được phát hành và phân phối. Đến những năm 2010, cassette được hồi sinh bởi các hãng thu âm độc lập và các nhạc sĩ DIY, những người ưa chuộng định dạng này vì tính khó chia sẻ qua Internet của nó.[32]
CD

Định dạng đĩa CD đã thay thế cả đĩa than vinyl và băng cassette để trở thành tiêu chuẩn phân phối thương mại đại trà cho các album âm nhạc vật lý.[33] Sau khi việc tải nhạc số và các máy nghe nhạc MP3 như iPod ra đời, doanh số album tại Mỹ đã giảm 54,6% từ năm 2001 đến 2009.[34] CD là một thiết bị lưu trữ dữ liệu số cho phép công nghệ ghi âm kỹ thuật số được sử dụng để thu và phát lại âm nhạc đã ghi.[29][33]
Album MP3 và các định dạng tương tự
Gần đây nhất, định dạng âm thanh MP3 đã phát triển hoàn thiện, cách mạng hóa khái niệm lưu trữ kỹ thuật số. Các album MP3 đầu tiên về cơ bản là bản sao từ CD được tạo bởi phần mềm sao chép CD thời kỳ đầu, và đôi khi là bản sao trực tiếp từ băng cassette và đĩa than.
Cái gọi là "album MP3" không nhất thiết chỉ ở định dạng tệp MP3, bởi các định dạng chất lượng cao hơn như FLAC và WAV cũng có thể được sử dụng trên các phương tiện lưu trữ chứa album MP3, chẳng hạn như đĩa CD-R-ROM, ổ cứng, bộ nhớ flash (ví dụ: USB, máy nghe nhạc MP3, thẻ SD...)
Các loại album
Nội dung của album thường được thu âm trong phòng thu hoặc ghi trực tiếp tại buổi hòa nhạc, dù cũng có thể được ghi ở những địa điểm khác, như tại nhà (ví dụ như album Okie của JJ Cale,[35][36] Odelay của Beck,[37] White Ladder của David Gray,[38] và một số album khác).[39][40][41] Nội dung album ghi tại hiện trường – như các bản thu nhạc blues thời kỳ đầu,[42] trong tù,[43] hoặc bằng các thiết bị thu âm di động như Rolling Stones Mobile Studio.[44][45]
Album phòng thu
Hầu hết các album là album phòng thu – tức là chúng được ghi trong một phòng thu với thiết bị nhằm mang lại cho người giám sát bản thu khả năng kiểm soát tối đa âm thanh của album. Các phòng thu này giảm thiểu tiếng ồn và âm vang từ bên ngoài, đồng thời trang bị microphone độ nhạy cao và thiết bị phối âm (sound mixing). Các thành viên ban nhạc có thể ghi phần của mình trong những phòng riêng biệt hoặc vào những thời điểm khác nhau, nghe các phần khác của bài hát qua tai nghe để giữ nhịp độ chính xác. Vào những năm 2000, với sự ra đời của công nghệ thu âm kỹ thuật số, các nhạc sĩ đã có thể thu phần của mình cho một bài hát tại một phòng thu ở một nơi khác trên thế giới và gửi đóng góp của họ dưới dạng kỹ thuật số để đưa vào sản phẩm cuối cùng.
Album trực tiếp

Các bản thu được thực hiện trong một lần duy nhất mà không bị ghi đè (overdubbing) hoặc thu đa băng (multi-tracking) được gọi là thu "trực tiếp",[46] ngay cả khi được thực hiện trong phòng thu.[47] Tuy nhiên, cách hiểu phổ biến về một album trực tiếp (live album) là album được ghi lại tại một buổi hòa nhạc có khán giả công chúng,[48] ngay cả khi bị ghi đè hoặc thu đa băng.[49] Các buổi biểu diễn trên sân khấu hoặc tại hòa nhạc được ghi âm bằng kỹ thuật thu âm từ xa. Album có thể được ghi trong một buổi hòa nhạc duy nhất, hoặc kết hợp các bản thu từ nhiều buổi hòa nhạc khác nhau. Chúng có thể bao gồm tiếng vỗ tay, tiếng cười và các âm thanh khác từ khán giả, lời bình luận của nghệ sĩ giữa các bài hát, phần ứng tấu (improvisation)... Chúng có thể sử dụng kỹ thuật thu đa băng trực tiếp từ hệ thống âm thanh sân khấu (thay vì đặt micro trong khán giả) và có thể áp dụng thao tác xử lý cùng hiệu ứng bổ sung trong giai đoạn hậu kỳ để nâng cao chất lượng bản thu.
Một trong những album trực tiếp nổi bật thời kỳ đầu là album kép The Famous 1938 Carnegie Hall Jazz Concert (1950) của Benny Goodman.[50] Sau đó hình thức album kép trực tiếp trở nên phổ biến trong thập niên 1970. Khi đánh giá khái niệm này trong cuốn Christgau's Record Guide: Rock Albums of the Seventies (1981), Robert Christgau nhận xét rằng hầu hết các album loại này "là những bản tổng hợp kiếm lời bị âm thanh và định dạng không phù hợp làm giảm giá trị với việc tái tạo qua máy hát (bạn không thể đưa hình ảnh, mùi hương hay tinh thần cộng đồng vào băng âm thanh). Nhưng với Joe Cocker, Bette Midler và Bob Dylan trong sân vận động, hình thức này lại mang một ý nghĩa hấp dẫn riêng."[51]
Những album trực tiếp nằm trong hàng ngũ bán chạy nhất gồm Unplugged (1992) của Eric Clapton (tiêu thụ hơn 26 triệu bản),[52] Double Live (1998) của Garth Brooks (hơn 21 triệu bản)[53] và Frampton Comes Alive! (1976) của Peter Frampton (hơn 11 triệu bản).[54]
Album solo
Trong âm nhạc đại chúng, một album solo là album của một thành viên hiện tại hoặc cựu thành viên của một nhóm nhạc thu âm và chỉ được phát hành dưới tên riêng của nghệ sĩ đó, dù một số hoặc tất cả thành viên khác trong ban nhạc có thể tham gia. Album solo đã xuất hiện từ cuối những năm 1940. Một bài báo trên tạp chí Billboard năm 1947 đã loan báo: "Margaret Whiting đang thảo luận với các lãnh đạo Capitol về album solo đầu tiên của cô, với phần đệm của Frank De Vol".[55] Không có định nghĩa chính thức nào quy định mức độ tham gia mà một thành viên có thể mời từ các thành viên khác trong nhóm mà album vẫn được gọi là album solo. Một nhà phê bình từng viết về Ringo – dự án thứ ba của Ringo Starr: "[V]ề mặt kỹ thuật… đây không phải là album solo vì cả bốn thành viên của The Beatles đều xuất hiện trong đó".[56] Ba trong số bốn thành viên của Beatles đã phát hành album solo khi nhóm vẫn chính thức hoạt động.
Một nghệ sĩ có thể thu âm album solo vì nhiều lý do. Một nghệ sĩ biểu diễn solo làm việc với các thành viên khác thường có toàn quyền kiểm soát sáng tạo, có thể thuê hoặc sa thải nhạc công bè đệm, và nhận phần lớn doanh thu. Nghệ sĩ đó cũng có thể tạo ra những ca khúc khác biệt rõ rệt so với âm thanh của ban nhạc mà họ từng gắn bó, hoặc những bài mà cả nhóm đã chọn không đưa vào album chung. Graham Nash (nhóm The Hollies) mô tả trải nghiệm phát triển album solo của mình như sau: "Điều tôi trải qua để tạo ra một album solo là một quá trình thú vị khi thu thập những ca khúc không thể do nhiều người thực hiện, vì bất kỳ lý do gì". Album solo cũng có thể đánh dấu sự rời đi của nghệ sĩ khỏi nhóm.
Album tổng hợp
Album tổng hợp là tập hợp các tác phẩm từ nhiều dự án thu âm hoặc nhiều nghệ sĩ khác nhau, được sắp xếp theo một chủ đề nhất định, chẳng hạn như “những ca khúc thành công nhất” của một nghệ sĩ, các mặt B và bản hiếm của một nghệ sĩ, hoặc các tuyển chọn từ một hãng thu âm, một thể loại nhạc, một giai đoạn thời gian cụ thể, hay một sân chơi âm nhạc địa phương. Các album quảng bá dạng sample cũng là một dạng album tổng hợp.
Album tri ân hoặc cover
Album tri ân hoặc cover là một tuyển tập các bản cover lại các ca khúc hoặc tác phẩm khí nhạc. Ý tưởng của nó có thể bao gồm nhiều nghệ sĩ khác nhau cover lại các bài hát của một nghệ sĩ, một thể loại hoặc một giai đoạn duy nhất; một nghệ sĩ duy nhất cover lại các bài hát của nhiều nghệ sĩ hoặc một nghệ sĩ, thể loại, giai đoạn cụ thể; hoặc bất kỳ biến thể nào của một album cover được quảng bá như một “tác phẩm tri ân”.[57]
Album truy tặng
Album truy tặng (posthumous album) là một album được phát hành sau khi nghệ sĩ đã mất. Những album này thường là album tổng hợp, đôi khi bao gồm những ca khúc chưa từng công bố của nghệ sĩ đã khuất. Tuy nhiên, album phát hành sau khi qua đời cũng có thể là album phòng thu, album trực tiếp hoặc album solo chứa chủ yếu là các tác phẩm chưa từng được phát hành trước đó.
Các album truy tặng có chứa nhạc mới thường nhận được nhiều ý kiến trái chiều (không tính các album tuyển tập Greatest Hits). Quan điểm về giá trị của việc phát hành âm nhạc truy tặng rất đa dạng: một số ủng hộ ý kiến rằng người nghe muốn được thưởng thức những kho tàng chưa công bố của nghệ sĩ, đặc biệt nếu gia đình và người quản lý di sản của nghệ sĩ trực tiếp tham gia để đảm bảo tôn trọng tầm nhìn của nghệ sĩ.[58] Ngược lại, một số quan điểm khác phản ánh ý kiến cho rằng những sản phẩm như vậy thường không có sự đồng ý của nghệ sĩ đã qua đời, và vì thế, chúng khó có thể đáp ứng được tầm nhìn của chính nghệ sĩ, từ đó có thể ảnh hưởng tiêu cực đến giá trị âm nhạc và di sản tổng thể của họ.[59] Một số ví dụ về album truy tặng nghệ sĩ thành công bao gồm album trực tiếp MTV Unplugged in New York (1994) của Nirvana, Life After Death (1997) của The Notorious B.I.G. (phát hành 16 ngày sau khi ông mất) và gần đây hơn là album truy tặng Circles (2020) của Mac Miller.
Xem thêm
Chú thích
- ^ Zipkin, Michele (ngày 8 tháng 4 năm 2020). "Best albums from the last decade, according to critics". Stacker. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2020.
- ^ Kreutzmann, Bill; Eisen, Benjy (2015). Deal: My Three Decades of Drumming, Dreams, and Drugs with the Grateful Dead (bằng tiếng Anh). Macmillan. tr. 259. ISBN 978-1-250-03379-6.
- ^ Philip Newell (ngày 18 tháng 7 năm 2013). Recording Studio Design. Taylor & Francis. tr. 169–170. ISBN 978-1-136-11550-9. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2017.
- ^ Benson, Robert. "Album Cover Art Series". Rock Art Picture Show. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2012.
- ^ "The history of the CD – The 'Jewel Case'". Philips Research. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2012.
- ^
Một hoặc nhiều câu trước bao gồm văn bản từ một ấn phẩm hiện thời trong phạm vi công cộng: Chisholm, Hugh, biên tập (1911). "Album". Encyclopædia Britannica. Quyển 1 (ấn bản thứ 11). Cambridge University Press. tr. 513.
- ^ "Mendelssohn And Schumann". Old and Sold. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2012.
- ^ Allain, Rhett (ngày 11 tháng 7 năm 2014). "Why Are Songs on the Radio About the Same Length?". Wired. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2014.
- ^ "Paul Whiteman and his Orchestra" (bằng tiếng Anh). Redhotjazz.com. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2011.
- ^ a b Cross, Alan (ngày 15 tháng 7 năm 2012). "Life After the Album Is Going to Get Weird". A Journal of Musical Things. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 4 năm 2013.
- ^ "On Alex Steinweiss and the Short History of Album Cover Art | Album Cover Zone". albumcoverzone.com (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2024.
- ^ a b Charles I. Granata (2003). The Voice of Frank Sinatra (booklet). Columbia Records. tr. 9. CK 62100.
- ^ Thill, Scott (ngày 21 tháng 6 năm 2010). "June 21, 1948: Columbia's Microgroove LP Makes Albums Sound Good". WIRED. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2017.
- ^ a b c d "About Vinyl Records". Record Collector's Guild. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2012.
- ^ Scott Baneriee (ngày 6 tháng 11 năm 2004). "New Ideas, New Outlets". Billboard (bằng tiếng Anh). tr. 48. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2020.
- ^ "Recording Academy™ to Transition to Online Voting for the 60". grammy.com (bằng tiếng Anh). Viện hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Thu âm Quốc gia. ngày 14 tháng 6 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2018.
- ^ "Rules For Chart Eligibility – Albums" (PDF) (bằng tiếng Anh). The Official UK Charts Company. tháng 1 năm 2007. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 27 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2007.
- ^ "As albums fade away, music industry looks to shorter records". Associated Press. ngày 4 tháng 1 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2012.
- ^ "14 Truly Amazing Japanese Bonus Tracks". Gigwise (bằng tiếng Anh). ngày 26 tháng 2 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2026.
- ^ Blume, Jason (2006). The Business of Songwriting (bằng tiếng Anh). Billboard Books.
- ^ "Piano Songbooks". Hal Leonard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2018.
- ^ "Guitar Recorded Versions". Hal Leonard (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2018.
- ^ Tainter, Callie. "Chronology: Technology and the Music Industry". PBS. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2012.
- ^ a b c Tatum, Malcolm. "What Are 8-Track Tapes?". wisegeek.com. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2015.
- ^ a b Moore, Dan (ngày 23 tháng 12 năm 2005). "Collector's Corner: The History Of The Eight-Track Tape". Goldmine Magazine. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2016.
- ^ Eric D. Daniel; C. Dennis Mee; Mark H. Clark (1999). Magnetic Recording: The First 100 Years. The Institute of Electrical and Electronics Engineers. ISBN 978-0-7803-4709-0.
- ^ a b c d e "History of Compact Cassette" (bằng tiếng Anh). Vintage Cassettes. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2012.
- ^ Haire, Meaghan (ngày 1 tháng 7 năm 2009). "A Brief History of The Walkman". Time (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2012.
- ^ a b "The History of Recorded Music". Music Cd Industry. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2012.
- ^ "Demo Tapes". Dave Mandl. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2012.
- ^ a b c "Mixtape History". MTV. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2012.
- ^ "Cassette Revival". Mediageek. ngày 28 tháng 12 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2012.
- ^ a b "The history of the CD – The beginning". Philips Research. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2012.
- ^ "Scary Stat: Album Sales Down 54.6 Percent Since 2000..." Digital Music News. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2012.
- ^ JJ Cale. Okie (album, CD) (bằng tiếng Anh). Mercury Records. 842 102-2.
- ^ "JJ Cale Obituary". The Telegraph (bằng tiếng Anh). ngày 28 tháng 7 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2018.
- ^ "100 Greatest Albums: 16 Beck Odelay". Spin (bằng tiếng Anh): 75. tháng 7 năm 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2017.
- ^ "UK Fave Tom McRae Bows In States Via Arista". Billboard (bằng tiếng Anh). ngày 18 tháng 8 năm 2001. tr. 11. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2017.
- ^ Matt Fowler (ngày 14 tháng 1 năm 2014). "15 Legendary Albums That Were Recorded in Bedrooms, Kitchens, and Garages". Mic (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2015.
- ^ Michael Duncan (ngày 12 tháng 2 năm 2015). "10 Classic Albums Made Outside the Recording Studio". SonicScoop (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2015.
- ^ Tyler Kane (ngày 17 tháng 1 năm 2012). "10 Great Albums Recorded at Home". Paste Magazine (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2015.
- ^ Bruce Bastin (ngày 1 tháng 1 năm 1995). Red River Blues: The Blues Tradition in the Southeast (bằng tiếng Anh). University of Illinois Press. tr. 64.
- ^ "Rare 1979 soul album recorded in a prison gets reissue". thevinylfactory.com (bằng tiếng Anh). ngày 19 tháng 8 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2015.
- ^ Bob Buontempo (ngày 16 tháng 5 năm 2013). "Can Award-Winning Recordings Be Made In A Home Studio?". prosoundweb.com (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2015.
- ^ Frank Mastropolo (ngày 23 tháng 10 năm 2014). "A Look Back at the Rolling Stones Mobile Studio: 'A Watershed Moment in Recording Technology'". ultimateclassicrock.com (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2015.
- ^ "Live Vs. Multitrack". redlightrecords.com (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2021.
- ^ Neil Rogers (tháng 1 năm 2017). "Session Notes: A Live Band In The Studio". Sound On Sound (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2021.
- ^ "Live album". Merriam-Webster (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2021.
- ^ Greg Moskovitch (ngày 3 tháng 2 năm 2021). "The shocking truth behind your favourite live albums". Tone Deaf - The Brag (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2021.
- ^ Bruce Eder. "Live at Carnegie Hall: 1938 Complete". AllMusic (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2021.
- ^ Christgau, Robert (1981). "The Criteria". Christgau's Record Guide: Rock Albums of the Seventies. Ticknor & Fields. ISBN 0-89919-025-1. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2019 – qua robertchristgau.com.
- ^ Chris Steffen (ngày 23 tháng 1 năm 2015). "Bassist Nathan East on Eric Clapton and "Change the World," Plus, Watch His Documentary". AllMusic (bằng tiếng Anh). Rovi Corporation. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2021.
- ^ "Double Live". Garth Brooks (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2021.
- ^ Chris O'Leary (ngày 13 tháng 2 năm 2019). Ashes to Ashes: The Songs of David Bowie, 1976–2016 (bằng tiếng Anh). Watkins. tr. 163. ISBN 978-1-912248-36-0. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2021.
- ^ "The Billboard: The World's Foremost Amusement Weekly". Billboard (bằng tiếng Anh). ngày 5 tháng 4 năm 1947. tr. 21.
- ^ Warner, Jay (2004). On This Day in Music History: Over 2,000 Popular Music Facts Covering Every Day of the Year (bằng tiếng Anh). Hal Leonard Publishing Corporation. tr. 323. ISBN 978-0634066931.
- ^ Shane Homan (ngày 1 tháng 9 năm 2006). Access All Eras: Tribute Bands and Global Pop Culture (bằng tiếng Anh). McGraw-Hill Education. tr. 4. ISBN 978-0-335-22986-4. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2020.
- ^ John Molloy (ngày 8 tháng 4 năm 2024). "How ethical are posthumous albums?". The Polytechnic (bằng tiếng Anh). Rensselaer Polytechnic Institute. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2025.
- ^ Sinead Dunphy (ngày 21 tháng 2 năm 2020). "The Problem with Posthumous Albums". The University Observer (bằng tiếng Anh). UCD Students' Union. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2025.
Liên kết ngoài
Định nghĩa của album tại Wiktionary
Tư liệu liên quan tới Music albums tại Wikimedia Commons








