| SVT-40 | |
|---|---|
Súng trường SVT-40 | |
| Loại | Súng trường, súng trường chiến đấu, súng trường tự động, súng bắn tỉa, súng cầm tay |
| Nơi chế tạo | |
| Lược sử hoạt động | |
| Phục vụ | 1940–Nay |
| Sử dụng bởi | Xem phần Các quốc gia sử dụng |
| Trận | Chiến tranh Thế giới thứ hai Chiến tranh Trung-Nhật Chiến tranh Triều Tiên Chiến tranh Đông Dương Chiến tranh Việt Nam Nội chiến Lào Nội chiến Trung Quốc Cách mạng Cuba Chiến tranh Lạnh Và nhiều cuộc chiến khác |
| Lược sử chế tạo | |
| Người thiết kế | Fedor Vasilievich Tokarev và Sergei Gavrilovich Simonov |
| Năm thiết kế | 1938 (cải tiến vào năm 1940)[1] |
| Nhà sản xuất | Nhiều hãng của Liên Xô |
| Giai đoạn sản xuất | 1940-1945 |
| Số lượng chế tạo | SVT-38: 150,000[2] SVT-40: 1,600,000[3][4] |
| Các biến thể | SVT-38, AVT-40 |
| Thông số | |
| Khối lượng | 3,85 kilôgam (8,5 lb) không đạn [1] |
| Chiều dài | 1226,82mm (48,3 in) |
| Độ dài nòng | 625 milimét (24,6 in)[1] |
| Đạn | 7.62×54mmR[1] |
| Cơ cấu hoạt động | Trích khí |
| Tốc độ bắn | 85–97 viên/phút |
| Sơ tốc đầu nòng | 830–840 m/s (2.720–2.760 ft/s)[5] |
| Tầm bắn hiệu quả | 500 mét (550 yd), 1.000 mét (1.100 yd)+ (với ống ngắm) |
| Chế độ nạp | Băng đạn 10 viên có thể tháo rời.[1] |
| Ngắm bắn | Điểm ruồi hoặc ống ngắm PU |
SVT-40, hoặc là Tokarev SVT-40, tên đầy đủ tiếng Nga là Самозарядная Винтовка Токарева, Образец 1940 года (phiên âm: Samozaryadnaya Vintovka Tokareva, Obrazets 1940 goda, dịch sang tiếng Việt: Súng trường bán tự động Tokarev, mẫu năm 1940) là một loại súng trường bán tự động được thiết kế bởi Fedor Tokarev và Sergei Gavrilovich Simonov, hai nhà thiết kế vũ khí của đất nước Liên Xô. Nó được sử dụng rất nhiều trong Chiến tranh Thế giới thứ hai cùng nhiều cuộc chiến khác sau đó.
Lịch sử
Vào những năm đầu thập niên 1930, Liên Xô yêu cầu phát triển một mẫu súng trường bán tự động nằm thay thế khẩu Mosin-Nagant, lấy cảm hứng từ mẫu súng trường Mondragón của Mexico. Việc thiết kế được giao cho hai nhà thiết kế là Sergei Simonov và Fedor Tokarev.[6] Simonov, người đã thiết kế khẩu Fedorov Avtomat, tạo ra phiên bản thử nghiệm của khẩu AVS-36 vào năm 1931. Khẩu súng được thử nghiệm trong Chiến tranh Mùa Đông nhưng bị loại bỏ vào năm 1941 do các lỗi thiết kế.[6]
SVT-38

Vào năm 1938. mẫu súng trường của Tokarev được chuấn thuận đưa vào sản xuất, với mã định danh SVT-38 với hi vọng rằng nó sẽ trở thành súng trường tiêu chuẩn mới của Hồng quân. Một kế hoạch sản xuất đầu tham vọng với 2 triểu khẩu được sản xuất trước năm 1942. Việc sản xuất bắt đầu tại nhà máy vũ khí Tula vào tháng bảy năm 1939.[7]
SVT-38 là mẫu súng trường nạp đạn bằng khí nén trích khí ngắn, piston ở phí trên nòng súng với khóa nòng nghiêng,[1] cơ cấu này sau này cũng được sử dụng trên khẩu FN FAL.[8] SVT-38 được trang bị lưỡi lê và hộp tiếp đạn 10 viên. Hộp khóa nòng hở phần trên, khiến cho có thể nạp đạn từ kẹp đạn 5 viên của khẩu Mosin–Nagant.[8] Phiên bản bắn tỉa được trang bị kính ngắm PU với độ phóng đại 3,5.[8]
SVT-38 lần đầu tham chiến trong chiến tranh Mùa đông vào năm 1939–1940 với Phần Lan. Khẩu súng có nhiều lỗi thiết kế, với cửa xả khí dễ bị tắc, hộp tiếp đạn có thể rơi trong quá trình sử dụng, và tầm bắn chính xác của nó chỉ đạt 600m.[8] Quá trình sản xuất bị dừng lại vào tháng tư năm 1940 khi mà chỉ 150.000 được sản xuất.
SVT-40

Với sự loại biên của khẩu STV-38, phiên bản cải tiến của nó là SVT-40 đi vào sản xuất hàng loạt. Thiết kế này được cải thiện dang kể, với khối lượng nhẹ hơn với chốt băng đạn gập. Ốp lót tay được cáu thành từ một mảnh và ống thông nòng được đặt dưới nòng súng. Một số chỉnh sửa khác cũng khiến quá trình sản xuất được đơn giản hóa. Quá trình sản xuất bắt đầu tại nhà máy Tula vào tháng bảy năm 1940 và sau đó tại các nhà máy tại Izhevsk và Podolsk. Quá trình sản xuất súng trường Mosin–Nagant M1891/30 vẫn được tiếp tục, và nó vẫn là súng trường tiêu chuẩn của Hồng quân, với khẩu SVT-40 more often issued to thường được sử dụng bởi các sĩ quan và các đơn vị tinh nhuệ hơn như lính thủy đánh bộ. Vì các nhà máy đã có kinh nghiệm sản xuất SVT-38,sản lượng tăng nhanh chóng và khoảng 70,000 khẩu SVT-40 được sản xuất trong năm 1940.
Trước chiến dịch Barbarossa, khi phe Trục xâm lược Liên Xô vào tháng sáu năm 1941, khẩu SVT-40 đã được sử dụng rộng rãi trong Hồng quân. Trong biên chế cấp sư đoàn của Hồng quân, một phần ba đáng lẽ là các khẩu SVT, mặc dù trong thực tế tỷ lệ này là thấp hơn. Tháng đầu của cuộc chiến là rất khó khắn với Liên Xô, khi họ mất hàng trăm nghìn khẩu STV. Để đối phó với tình trạng này, dây chuyền sản xuất Mosin–Nagant được khôi phục, đối với các binh lính chỉ qua huấn luyện đơn giản thì khẩu súng này đơn giản sử dụng và bảo quản hơn, trái ngược hoàn toàn với khẩu STV-40. Các mẫu súng tiểu liên như PPSh-41 đã chứng minh chỗ đứng với lợi thế là rẻ, đơn giản và hiệu quả hỏa lực tốt. Điều này dẫn đến sự suy giảm trong sản xuất STV. Vào 1941, hơn một triệu khẩu STV được sản xuất bởi nhà máy Izhevsk nhưng sau đó nhà máy được lệnh dừng sản xuất và chuyển sang mẫu Mosin–Nagant 91/30. Chỉ 264,000 khẩu SVT được sản xuất vào năm 1942 và quá trình sản xuất tiếp tục cho đến khi bị ngừng vào tháng một năm 1945. Tổng cộng có 1.600.000 khẩu SVT-38/40 được sản xuất, trong đó có 51,710 khẩu là phiên bản bắn tỉa SVT-40 .[1][3][4]

Các quốc gia sử dụng
Liên Xô
Nhà nước Độc lập Croatia[9]
Tiệp Khắc: Lữ đoàn độc lập Tiệp Khắc số 1.[10]
Việt Nam
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: Sử dụng rất hạn chế.[11]
Thụy Sĩ: Làm nhái thành AK-44
Nga: Số lượng SVT-40 được cấp cho dân quân ở Luhansk có hạn.
Cộng hòa Nhân dân Lugansk: Do Nga tài trợ và được Lực lượng dân quân nhân dân Nga ở Ukraina.[12][nguồn tự xuất bản]
Đức Quốc xã: Tịch thu từ quân đội Liên Xô, được gọi là Selbstladegewehr 259(r).[13]
Estonia: Sử dụng trong và sau Thế chiến II.[14]
Phần Lan: Thu được từ quân đội Liên Xô, phiên bản AVT-40 cũng được sử dụng.[15] Những chiếc SVT-38, SVT-40 và AVT-40 do Phần Lan thu giữ có tem thuộc tính [SA].- Phong trào kháng chiến Ý: Tịch thu từ lính Đức Quốc xã
Ba Lan: Lực lượng vũ trang Ba Lan ở phía Đông.[16]
Croatia
Lithuania: Cảnh sát dân sự Litva đã sử dụng những chiếc SVT-40 thu được trong thời kỳ Đức Quốc xã chiếm đóng Litva trong Thế chiến thứ hai.[17]
Ukraina: Vào ngày 23 tháng 11 năm 2005, chính phủ đã ký một thỏa thuận với Cơ quan Hậu cần và Cung ứng NATO để bắt đầu tiêu hủy các kho vũ khí và đạn dược dư thừa để đổi lấy hỗ trợ vật chất và tài chính. Tính đến ngày 6 tháng 8 năm 2008, Bộ Quốc phòng có 11.500 khẩu súng trường SVT được cất giữ (10.000 khẩu có thể sử dụng được và 1.500 khẩu sẽ được tiêu hủy);[18] Tính đến ngày 15 tháng 8 năm 2011, 1000 khẩu súng vẫn còn trong kho của Bộ Quốc phòng,[19] Vào ngày 29 tháng 2 năm 2012, quyết định tiêu hủy 180 khẩu súng trường đã được phê duyệt.[20] Đã được sửa đổi với Suppresor và phạm vi trong Cuộc xâm lược Ukraine của Nga năm 2022
Quân đội nổi dậy Ukraina: SVT-38 và SVT-40 thu được từ Phát xít Đức Quốc xã và Hồng quân Liên Xô.
Đông Đức
Gruzia[21]
Israel Được Tiệp Khắc cung cấp hỗ trợ
Bắc Triều Tiên[22]
Xem thêm
Chú thích và tham khảo
Tham khảo
- 1 2 3 4 5 6 7 "Modern Firearms article on SVT-40". Modern Firearms (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 12 năm 2003. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2025.
- ↑ Suciu, Peter (ngày 13 tháng 1 năm 2021). "Ranked: Which World War II Semi-Automatic Weapon Was the Best?". National Interest. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2021.
- 1 2 Steve Kehaya; Joe Poyer (1996). The SKS Carabine (CKC45g) (ấn bản thứ 4). North Cape Publications, Inc. tr. 10. ISBN 1-882391-14-4.
- 1 2 Edward Clinton Ezell (1983). Small Arms of the World: A Basic Manual of Small Arms (ấn bản thứ 12). Stackpole Books. tr. 894. ISBN 0-8117-1687-2.
- ↑
- "Tokarev M1940". Intelligence Bulletin (U.S.) (bằng tiếng Anh). tháng 5 năm 1946. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2025.
gives 2720 ft/s
- Семен Федосеев, "Самозарядная винтовка Токарева", Техника и вооружение, June 2005, p. 16, gives 840 m/s
- "Tokarev M1940". Intelligence Bulletin (U.S.) (bằng tiếng Anh). tháng 5 năm 1946. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2025.
- 1 2 Pegler, Martin (2019). Sniping Rifles on the Eastern Front 1939-1945. Osprey Publishing. tr. 28.
- ↑ "The Red Army's Self Loading Rifles: A Brief History Of The Tokarev Rifles Models of 1938 and 1940. By Vic Thomas Of Michigan Historical Collectables". Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2010.
- 1 2 3 4 Pegler, Martin (2019). Sniping Rifles on the Eastern Front 1939-45. Osprey Publishing. tr. 29.
- ↑ Vladimir Brnardic (ngày 22 tháng 11 năm 2016). World War II Croatian Legionaries: Croatian Troops Under Axis Command 1941—45. Bloomsbury USA. tr. 9. ISBN 978-1-4728-1767-9.
- ↑ Gelbič, Michal. "1st Czechoslovak Independent Brigade". czechpatriots.com. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2019.
- ↑ Prenderghast, Gerald (2015). Britain and the Wars in Vietnam: The Supply of Troops, Arms and Intelligence, 1945-1975. McFarland, Incorporated, Publishers. tr. 288. ISBN 9781476620916.
- ↑ "A very interesting video showing a range of obsolescent small arms including a Polish PPS-43, a PPSh, an M1 Thompson, an SKS, SVT-40, an RPK and a Mosin-Nagant". Twitter (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 9 năm 2023. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2023.
- ↑ W. Darrin Weaver (2005). Desperate Measures: The Last-Ditch Weapons of the Nazi Volkssturm. Collector Grade Publications. tr. 61. ISBN 0889353727.
- ↑ Nigel, Thomas; Caballero Jurado, Carlos (ngày 25 tháng 1 năm 2002). Germany's Eastern Front Allies (2): Baltic Forces. Men-at-Arms 363. Osprey Publishing. tr. 40. ISBN 9781841761930.
- ↑ "Rifles, part 4". ngày 15 tháng 1 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 5 năm 2023.
- ↑ McNab, Chris (2002). 20th Century Military Uniforms (ấn bản thứ 2). Kent: Grange Books. tr. 191. ISBN 1-84013-476-3.
- ↑ Nigel & Caballero Jurado 2002, tr. 46.
- ↑ "Про затвердження переліку військового майна Збройних ... | від 06.08.2008 № 1092-р (Сторінка 1 з 27)". ngày 4 tháng 3 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2023.
- ↑ "Перелік військового майна Збр... | від 15.08.2011 № 1022-р". ngày 25 tháng 1 năm 2022. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2023.
- ↑ "Про утилізацію стрілецької зброї | від 29.02.2012 № 108-р". ngày 19 tháng 11 năm 2021. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2023.
- ↑ Small Arms Survey (1998). Politics From The Barrel of a Gun (PDF). Cambridge University Press. tr. 40. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 12 tháng 1 năm 2011.
- ↑ Lai, Benjamin; Guoxing, Zhao (2024). Ground Forces in the Korean War 1950–53 (1): The North Korean People's Army and the Chinese People's Volunteer Army (bằng tiếng Anh). Bloomsbury Publishing. tr. 25. ISBN 978-1-4728-6102-3.








